VĂN & LUẬN III: PHẬT TẠI TÂM

Kinh „Chấm Dứt Tranh Biện“

 
Lời Dẫn:
(15:02, 2013-04-27 – 02:22, 2013-05-03)
 
Quý Bạn đọc thân mến,
Cảm nhận Trang riêng có ...
 

Chấm dứt tranh biện: Hồi hướng

11:58, 2012-07-23
Chị Thùy Linh thân mến,
Tôi đã ghi chữ „kỳ thú“ bên trên; Nay xin thêm ít dòng kết hậu như Lời Cảm Ơn (Hồi hướng công đức).
Từ link bài chủ, tôi khảo lại những bài của Thày Thích Nhất Hạnh thì ngộ ra đủ những điều „tồn si“ trong suốt thời gian dài: Bản kinh này là kinh thứ 11 trong 16 kinh „nguyên thủy“ Đức Phật thuyết thời Người chưa đến 40 tuổi. Lý thú là khi tu tập trì tụng, tôi thấy những đoạn mở đầu rất công thức và ít ý nghĩa: „Ta nghe như vầy: ... (Như thị ngã văn: ...)“. Thày Nhất Hạnh chỉ ra rằng những đoạn „trường hàng“ đó được viết thêm 200-300 năm sau khi Đức Phật nhập diệt để tạo „không khí“; Cốt lõi kinh là những bài „thi kệ“. - Chị Thùy Linh đừng cười sự chậm hiểu này nhé!
Tôi coi original và lần theo nghĩa giải “kệ” chữ Hán để viết lại. Biết chưa đủ lực để hoàn thiện (còn cần sửa nhiều lần nữa), nhưng cũng cố đầy đủ và phô sau đây để ghi nhớ như một kỷ niệm đẹp với đạo hữu.
Trân trọng,
Thiện Hảo.
 
Bài kệ 1
Ai ai cũng thấy mình hay,
Ai ai cũng muốn tỏ bày cao siêu;
- Pháp là lấy đó làm điều,
Nếu không tỏ được thì tiêu công trình.
 
Bài kệ 2
Chấp mình nên cãi cho mình:
Người thì mê hoặc, ta tinh sự đời;
Mỗi người thấy „thật“ riêng thôi,
Còn như cái THẬT của Trời thì quên!
 
Bài kệ 3
Chẳng coi người khác biết nhìn,
Thì ngay trước mắt, bóng đêm vẫn còn;
Tuệ quang leo lét chiều hôm,
Bầu trời như cái vung tròn trên cao.
 
Bài kệ 4
Ý riêng bám mãi trong đầu,
Lại đem mình để xếp vào thánh nhân;
Chín người, mười ý biệt phân,
Còn đâu là giả, là chân trong đời?
 
Bài kệ 5
„Ta là chân lý tuyệt vời“,
Nghênh ngang nhất khoảnh, ban lời „vàng son“;
„Đỉnh cao trí tuệ“ … chon von,
Quên đi đôi gót vẫn còn nhơp nhơ!
 
Bài kệ 6
„Đường ta đi đẹp như mơ,
Thế gian còn kém, còn thua … vạn lần“;
Mượn vàng đem đắp vào thân,
Lại coi Đạo lý, Nghĩa nhân là … bèo!
 
Bài kệ 7
Đạo đời như tấm trăng treo,
Quay lưng thì tối, hướng theo thì ngời;
Ngộ ra, chỉ một ta thôi,
Nương tay càng tối, thêm lời càng mê.
 
Bài kệ 8
Tận cùng rừng thẳm, sơn khê,
Người đi, giáo thuyết cũng … lê theo cùng;
„Bán dưa“ hỏi được mấy đồng,
Cái danh có vượt qua vùng cỏ khâu?
 
Bài kệ 9
Lý đời nào khác chi nhau,
Lẽ đời thì thật nông, sâu cách vời;
Mắt nhìn, miệng nói ra lời,
Chẳng qua cũng thể sờ voi đặt điều.
 
Bài kệ 10
Thấy, nghe, trì giới bao nhiêu,
Đừng đem sở kiến mà đeo cho người;
Cố công đoạt ý, cướp lời,
Thì sao thoát khỏi cõi đời u mê?
 
Bài kệ 11
Tối tăm đã chẳng sáng gì,
Lại còn bày vẽ đường đi cho người;
Tự khen - Chuốc xú với đời,
Càng cao ngạo khí, càng khơi oán thù.
 
Bài kệ 12
Kiến tà là nước ao tù,
Mà coi như thể sen hồ tỏa hương;
Tự phong „giáo chủ nhất phương“,
– Ba hoa miệng lưỡi, tầm thường cách nhân. 
 
Bài kệ 13
Rằng người tối dạ, ngu đần,
Người rằng „thùng rỗng mới cần tiếng to“;
Mạt cưa, mướp đắng đôi co,
Cho thiên hạ thấy mình thò đuôi ra.
 
Bài kệ 14
„Nghe ta và thấm lý ta,
Biết ăn lời mới thành ra con người“;
– Si cuồng, độc đoán ở đời,
Ấy là gốc loạn, nguồn khơi oán cừu.
 
Bài kệ 15
„Sinh vi nam tử“ … khác người,
Cũng đừng „quán triệt“ bắt đời phải theo;
Bó thân trong những giáo điều,
„Kim cô“ lệ thuyết, tự đeo buộc mình.
 
Bài kệ 16
„Mỗi người là một minh tinh“,
Thì còn ai để cho mình trách chê?
Pháp nguời thì bảo bùa mê,
Chỉ riêng ta mới „chỉnh tề“ mà thôi!
 
Bài kệ 17
Cái Thân bó lấy cái Đời,
Tai mình chỉ biết mỗi Lời mình hay;
Chi bằng dứt niệm „vẹo, ngay“,
Thoắt nhiên liễu ngộ đạo trời „Chân Như“.
 
 
„Thiện Hảo“ Phật Am


Thân mến chia sẻ cùng Bạn quý:
Anh Nguyễn Hữu Quý và Bác Gocomay.
02:20, 2011-05-19

(Thay lời dẫn)

 
Từng bước đi giữa Đời,
Gặp Bạn cùng mến Đạo;
Xin dựng riêng Am này,
Sẻ chia và hỏi học.

Trân trọng,
Thiện Hảo.

Mục Lục


Bài số
(Artikel Nummer)
Tiêu đề
(Titel)
Ngày lên bài
(Post datum)
Phật Tâm - 01
Viên Giác, Đôi giòng kỷ niệm
PT-02
Tư liệu tham khảo: Thơ Hoàng Trung Thông
21.05.2011
PT-03
Tư liệu 2007: Học và Tu
23.05.2011
PT-04
Tư liệu 2008: Nghĩ về Sống và Chết
24.05.2011
PT-05
Phước Điền Y
25.05.2011


2011-06-20

 Phật tử – Con Phật 
 Thư kính gửi Hoà Thượng Bổn sư
 09:16, 2011-06-20

München, ngày 15 tháng Hai 2009

Phật t Thiện Hảo kính cẩn đảnh lễ Bổn sư, Hoà Thưng Viên Giác

Kính bạch Hoà Thưng,
Do sinh kế nên con không thưng đưc diện kiến Bổn sư và thăm viếng Chùa; nhưng công đc khai ngộ của Hoà Thưng, con vẫn thưng tâm niệm.
Trong dịp cuối năm, con có về lại Nürnberg và đưc coi CD hình Thày Quảng Bình hành lễ tại đây; biết ít nhiều về tình hình các đạo hu, con cảm xúc và viết ra nhng dòng như sau. Theo xúc cảm, con có cố chuyển thành Hán ng; nhưng vì hiểu biết của con chỉ thông qua việc học-đọc kinh ch hán-latin nên không dám t tin. Con kính chuyển lên Hoà Thưng để trình bày kiến giải và kính mong Thày bt công chỉnh sa giúp cho con.
Con mong có dịp diện kiến Thày để xin thêm li dạy và ch của Thày.

Con kính chúc Thày Sc khỏe và An lạc.
Phật t Thiện Hảo kính thư.

Con Phật
Ta là con Phật không bè hội,
Tự do muôn nẻo giữa nhân quần;
Phật ở tâm mình, Tâm là Phật.
Tinh tiến xa dần cõi vô minh.

Phật tử
Ngã kim Phật tử phái hội vô,
Lai khứ nhân gian cánh tự do;
Phật tại tâm trung, Tâm thị Phật,
Tuệ khai nhật nhật đoạn vô minh.

Thiện Hảo,
Nürnberg, 2009-01-30 – München, 2009-02-02



Bài số 5:
Phước Điền Y
(Thọ Bồ Tát giới Tại gia)
23:32, 2011-05-25

Bài này cũng như một kỷ niệm: Thọ Bồ Tát giới Tại gia.
Như trong bài thứ ba chúng tôi có ghi lại: Với mong muốn tu học,trong suốt 2 năm chúng tôi đã cùng đạo hữu Hội trưởng tham gia Thọ Bát Quan Trai giới tại hầu khắp các cơ sở Hội trong nước Đức. Anh bạn giới thiệu chúng tôi tham gia „Lễ hội“ buổi đầu có nhận xét: Những người trí thức, khi làm việc gì (cụ thể là việc tu học Phật pháp) đều theo đuổi tận lực. Tôi là Cử nhân và một người bạn nữa cũng tốt nghiệp Cao học Sư phạm và là giáo viên. Viết ra điều này không hề là một sự „tự ca“ gì mà chỉ là nói lên một kinh nghiệm: Khi tìm học, phải tìm đến „ngọn nguồn, lạch sông“ để cố thấu đáo các lẽ. Làm cho tận sức một việc, ta sẽ thu được những tri thức khá cơ bản và hoàn chỉnh để có thể an tâm nhìn nhận cuộc sống sáng tỏ hơn. Việc tham gia khóa „Tu Gieo Duyên“ hay thọ „Bồ Tát Giới tại gia“ cũng là những bước như vậy.
Thọ Bồ Tát giới tại chùa Khuông Việt (Na-uy), chúng tôi được thỉnh tấm áo đen bốn vạt và được phép mặc trong các lễ hội Phật giáo. Buổi nhận y rất long trọng và mỗi người nhận và mang (mặc) áo trong tiếng hát vang âm đầy tâm lực của cả hội trường.
Về ý nghĩa của Y, chúng tôi được giảng rất rõ. Để giản tiện, xin ghi lên đây một bài „kệ“ để quý bạn đọc có chút nhìn nhận đại cương.

Xin hồi hướng công đức lên Phật, Tổ và Quý Thầy.
Phật tử Thiện Hảo.

[PS.: Từ đây sẽ post tiếp bài sau lên trên như việc “cập nhật”;
[Các ảnh được cập nhật trong phần „ảnh“ của bài số 1.
[Ghi chú thêm: Giáo hội quy định người tu nam đứng trước;
[Cho nên trong hình có các vị cao niên đứng sau cũng là theo quy định đó.]

Kệ nhiễu Phật Ðại lễ Tăng Y

Tăng y truyền thống ngàn xưa,
Ca sa biểu tượng ngọn cờ thánh nhân;
Sắc màu của bậc ly trần,
Phước điền y bát hàm ân muôn loài.
Tâm thành nhiễu Phật hôm nay,
Giới nghi hợp đạo đúng thời tròn duyên;
Ba đời chư Phật giáo truyền,
Tăng Già nhiêu ích nhơn thiên phúc lành.
Quả sanh trường thọ đẹp xinh,
Kiện khang mẫn tiệp tinh thần thảnh thơi;
Mai sau Thiện Thệ ra đời,
Thiện lai tăng tướng một lời Phật ban.
Chúng con nay đủ duyên phần,
Ca sa lễ phẩm cúng dâng chí thành;
Ba thời tác ý tịnh thanh,
Tăng Già cụ túc viên thành thắng duyên.
Phước lành hồi hướng chư thiên,
Cầu xin hoan hỉ khắp miền gần xa;
Hộ trì mưa thuận gió hòa,
Thịnh hưng giáo pháp âu ca cõi đời.
Nguyện nhờ Tăng đức cao vời,
Mẹ cha trường thọ sáu thời bình yên;
Phú cường quốc độ mọi miền,
Âm siêu dương thới thiện duyên vun bồi.
Nguyện trong những kiếp luân hồi,
Biết phân thiện ác dưỡng nuôi căn lành;
Lìa tử sanh chứng vô sanh,
Giác tha tự giác hồng ân báo đền.


Bài số 1
Viên Giác, Đôi Giòng Kỷ Niệm.
[Hay là: Hoà giải bắt đầu từ tự lý giải để nhận thức.]

Thưa Trang chủ Nguyễn hữu Quý và tác giả Gocomay,
Bài viết và sự đăng tải này rất giá trị vì đã đề cập đến những việc thực; Vậy xin cũng được chia sẻ những kỷ niệm thực sống với nhiều kỷ niệm về chùa Viên Giác.

Nguồn Hứng Cảm:


Phấn I: Duyên Khởi

Sau khi quy y, tôi làm bài tự thuật:
Duyên khởi Trường-thủy điện,
Khai danh – Viên Giác Sư;
Vốn dĩ phụ thân di huấn,
Tây thiên kiến Phật khai hoa.

Chú thích:
Câu 1: Langwasser Süd, Nurembe (Nürnberg) – Nghĩa gốc là “trường-thủy”;
Câu 2: Hoà Thượng Thích Như Điển;
Câu 3: Trên đường đèo xe đạp tiễn tôi đi đại học, Phụ thân tôi (đã mất) đọc câu Kiều:
Tu là cội phước, tình là giây oan.
Câu 4: Mượn ý để nói “Tây Đức”.

Buổi đầu tiên đi chùa (Niệm Phật đường, “điện”) là đi lễ Tết Nguyên Đán do Hội Phật tử tổ chức, theo lời rủ của một “đồng hương” gái Hà Nội đến trước: Năm ngoái tớ đi, tombola vớ được cái nồi cơm điện [:-)!].
Mở đầu là chào cờ. Sau khi nghe hô, mấy anh em “lao động” cất lời:
Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc; ...
Nhưng liền nghe ngay bên:
Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi; ...
Chúng tôi nhìn nhau và hiểu ra: Có 2 bài hát khác nhau!... Tất nhiên là chúng tôi hát nhỏ dần đi; Nhưng điều thú vị sau đó là không có ai “đề cập vấn đề” này.
Nhưng đó mới chỉ là buổi đầu.

*
Thực lòng mà nói thì dân “xã hội chủ nghĩa” gốc “Bắc kỳ” như chúng tôi đã được học và biết khá ít về Phật pháp; Nhưng nói hoàn toàn không thì không đúng. Tôi biết Bụt qua những câu chuyện của Bà Nội tôi với những truyện thơ như “Tấm, Cám”, “Thạch Sanh”...:
Câu hát ru hời, tiếng quạt nan tre,
Của Bà ta mát rượi những trưa hè.
...

Tôi chịu khó mày mò tìm hiểu để rồi đọc đi đọc lại “Đại chân Viên Giác Thanh” của Ngô Thì Nhậm mà không hiểu hết. Khi đi chùa “Tây thiên”, nghe những bài giảng có bài bản thì thú lắm, nên rất chăm. Nhưng cũng vì với cái tâm học mà những chuyện khác chỉ xếp vào “vạn sự như lôi”. Tôi được ông hội trưởng khen: Thiện Hảo hay thật đấy: Ai nói gì cũng chỉ cười!... Đọc bác Gocomay, tôi thấy xấu hổ. Tôi chỉ thích chụp ảnh thôi, và cũng “quay phim” do hoàn cảnh nó cho phép (tiền mua máy vừa phải và có nhiều anh em bạn amateur). Tôi lại có thời gian làm trong hãng ảnh nên chụp nhiều và tặng cũng ... gần hết. Được tiếng là “công đức vô lượng” mà thực tình là những người dính líu với phim ảnh thường được tự do, nhất là khi tiến hành nghi thức ban đầu...
Với những điều kiện như thế, tôi khá gần gũi các bạn đạo và được nghe kha khá chuyện của anh em “bên kia”: Làm sao để sau khi tốt nghiệp sĩ quan, có thể về “vùng chiến thuật” ít giao tranh (“Chạy” ai? “chạy” thế nào?...)? Ông đại tá tự hào biết bao khi kể lại chuyện dùng trực thăng quân dụng đưa “bà già” (mẹ đẻ) đi chơi, etc. – Tất nhiên tất cả đều thuộc về “vạn sự như lôi” cả; Nhưng tôi hiểu và thấy thân thương hơn những người mà tôi nhận “đồng bào”! Tôi thật xúc động khi nghe Thày Thích Như Điển nói trong một buổi đàm đạo: Tôi cũng bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam trong đợt biểu tình 1964. Còn Thày Khuông Việt thì có lẽ do hiểu tính “dân bắc” nên nhiều khi gọi tên tục mà không kêu pháp danh: Lên uống trà với Thày!... Những điều nho nhỏ ấy, cho tôi ngộ ra rằng: Đạo đó, mà cũng là đời đó; Đạo có được là bởi con người, cho nên ĐẠO CAO NHẤT PHẢi LÀ “NHÂN ĐẠO”!

Phn II: Hoà giải bắt đầu từ tự lý giải để nhận thức.

Nhưng tôi cũng hiểu con đường “Hòa giải, Hòa hợp” là con đường phải đi nhưng vẫn, đáng tiếc, còn dài. Tôi ủng hộ Cù Huy Hà Vũ vì trong những tiếng nói của anh, có mong muốn xóa bỏ thù hận và hòa hợp Dân tộc lại. Tiếc thay Anh đã bị hiểu sai và bị xử oan.
Vấn đề, xét cho kỹ, thì rất rộng và sâu. Ấy là tôi nghĩ đến một Trang mạng đầy tâm huyết và tài năng đã “nói lời tạm biệt”. Trang mạng đó đã lật xới nhiều vấn đề văn chương và học thuật. Chính tại đây đã sớm có chuyên mục “Chiến tranh nhìn từ nhiều phía”. Buồn và băn khoăn, tôi tự lý giải rằng có thể một trong những nguyên nhân “đình bản” là vấn đề vượt quá tầm “nhân lực” (“tận nhân lực, tri ... thời cuộc”) – Gợi lại chỉ thấy đau và xa cách nhau thêm, không/chưa thể nào đi đến rốt ráo. Cho nên tôi nghĩ đến điều này và không mong đó là sự thực: Có lẽ trong cuộc đời ngắn ngủi còn lại, ta không thể nhìn thấy sự tha thứ và hòa hợp của giống nòi chăng?
Buồn và Đau!

PS.:
Tôi thấy tất cả những sự tình mà tác giả Gocomay viết là xác thực; Cho nên muốn khẳng định lại câu đầu: Tôi đánh giá cao Tâm huyết của tác giả và Trang chủ.
Kính bút,
Văn Đức.

Phần III: Viên thành quả giác (Viên Giác)
02:49, 2011-05-17

Thưa Bác Gocomay và Anh Quý thân mến,
Tôi được đọc một bài tâm đắc thì ghi ra cảm nhận của mình. Khi post lên thì do nhiều ký tự mà phải chia hai, thành ra trùng lặp và không có trình tự. Tôi cũng post lên Anh Ba Sàm và đọc được một ý kiến sửa sai về chuyện ghi „Phong trào Phật giáo xuống đường năm 1963“ - nhầm thành „1964“ - làm đổ sập „nền Cộng hòa thứ nhất“ cùng cái chết của ông Ngô Đình Diệm. Tôi cũng có cuốn sách về sự kiện này của những người đương thời, nhưng chưa có thời gian khảo lại nên chưa muốn trả lời đàng hoàng. Chuyện này cũng „như lôi“ (dữ dội như sấm, nhưng cũng qua nhanh), nên không bàn tiếo để dành tâm tư trao đổi cùng thân hữu.

Câu thơ bác Gocomay dẫn theo lời Thày Viên Giác là của Hương Hải Thiền sư; Xin chép một đoạn:
Vua Lê Dụ Tông vì hiếm hoi con, mời Sư vào nội điện lập đàn cầu tự, bấy giờ Sư đã 78 tuổi. Lúc vào chầu, vua rất kính trọng, hỏi Sư rằng:
- Trẫm nghe Lão sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Lão sư thuyết pháp cho trẫm nghe để trẫm được liễu ngộ.
Sư tâu:
- Xin bệ hạ chí tâm nghe cho thật hiểu bốn câu kệ này:
Hằng ngày quán lại chính nơi mình
Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh
Trong mộng tìm chi người tri thức
Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.
(Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
Tương lai diện thượng đổ sư nhan.)

Vua lại hỏi:
- Thế nào là ý của Phật?
Sư liền đáp:
Nhạn bay trên không
Bóng chìm đáy nước
Nhạn không ý để dấu
Nước không tâm lưu bóng.
(Nhạn quá trường không    
Ảnh trầm hàn thủy  
Nhạn vô di tích chi ý        
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.) 
Vua khen ngợi:
- Lão sư thông suốt thay!
[Hết trích]

Nhân thấy hay, xin bàn góp:
“Trong mộng tìm chi người tri thức”: Mê muội theo “lập trường, quan điểm, Quốc-Cộng” thì làm sao mà hiểu được để dung nạp những con người mang chí hướng và có “tri thức” (biết đạo giáo, đạo lý và luận giải khoa học)! Chỉ khi tự tâm mong cầu học để hiểu và làm cho đúng “Đạo Người” thì sẽ thấy bản lai diện mục của “người Thày” giúp mình có thêm tri thức.
Các quý vị đang đấu tranh giữ và giành “quyền” hiểu được điều này thì may lắm!


Viên Giác IV (phần Kết): Thày dạy và Bạn học

Thưa các bác,
Tôi đã dự nhiều khóa học cuối tuần và nhiều lần được nghe Thày Viên Giác giảng. Các buổi sinh hoạt tối, Thày hay đọc thơ và thích đọc bài “Kẻ Sỹ” của Nguyễn Công Trứ. Thày tâm sự mình có một lời nguyện rằng: Tôi nguyện làm mặt đất để hứng đựng tất cả thị phi của Đời. (Ghi theo trí nhớ).
Lâu rồi, tự tu nên ít về chùa để thăm Thày Viên Giác (“khai danh Sư”). Sự đời không biết nói thế nào, nhưng những điều chân lý mà các bậc Thày dạy thì luôn biết tri ân và ghi lòng theo cho suốt cõi nhân sinh!...

*
Trong “Tứ trọng Ân” Phật chỉ dạy (Cha-Mẹ, Quốc gia, Thày tổ và Nhân quần) thì hai “Ân” sau nói (giản lược) về Thày và Bạn Minh triết Việt nói: Không Thày, đố mày làm nên; Lại cũng nói: “Học thày không tày học bạn”. Thày dạy những điều nguyên lý là những thứ không thể thiếu như những nguyên vật liệu ban đầu tạo nên cốt xương trí tuệ cho con người, Nhưng công việc phát huy tri thức thì chỉ có thể thông qua bàn luận, phản biện trong tinh thần hữu ái (tôn trọng nhau trong tinh thần bình đẳng) mới mong tìm ra “trí tuệ” hầu có cái “chỉ đường” để mà đi. :-)! Chớ chỉ dúi cho nhau mấy thứ “Kangeru bỏ túi” thì ... làm nên cháo, cơm gì?
Tôi trân trọng Trang nhà của bác Nguyễn Hữu Quý trong tình cảm và suy tư như vậy. Ngay đây, tơi nhớ đến một đoạn thơ của Hoàng Trung Thông (Không nhất thiết trích cả bài để thông cảm với “ý thức hoàn thành nhiệm vụ” của ông):
Nhà lá đơn sơ, tấm lòng rộng mở,
Nồi cơm chín dở, bát nước chè xanh;
Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau.
Tôi quý Trang nhà vì dù không đủ sức rộng lớn để đăng và tải nhiều; Chủ trang thì không phải luôn khỏe như “voi bản Đôn” hay “Rừng Xà Nu” –  Nhưng luôn trăn trở về những điều bức bối:
“Nồi cơm” ấm no hạnh phúc của Nhân dân đang còn “chín dở”;
Tâm tư tri thức chỉ có thể chia nhau “bát nước chè xanh” trên mạng ảo;
Nhưng vẫn vui vì được trao đổi “chuyện tâm tình”.
Thiếu điều đó: Thiếu TÂM TÌNH của Bằng hữu, con người có thể làm được gì gọi là ý nghĩa trong đời?

Xin tạm dừng vì cũng ... hơi bị dài chăng?
Trân trọng và thân ái,
Văn Đức.

PS.:
Thưa quý bác,
Chuyện phía trước (không dám viết “đường dài”), thì xin được từ từ vô thăm Trang nhà bác Gocomay để được đọc nhiều hơn. Do cơ may này và vì kỹ thuật, tôi sẽ nhìn lại “Mái Chùa Xưa” và chọn hình post lên “ngôi LỀU chú Tôm” của mình.
Bác Quý cho biết 2 CD thì hay lắm, vì nghe cũng là sự học. Xin tặng hai bác câu tôi viết để nhắc nhủ mình:
Lắng tiếng cổ-kim bàn THIỆN-ÁC,
Nghe giọng đông-tây cãi CHÍNH-TÀ.
Thật nhiều thân mến,
Văn Đức.

Phần Ảnh tư liệu


Thượng tọa Bổn sư thuyết giảng;
Cùng Thượng tọa thượng THIỆN hạ THÔNG, dịch nhiều kinh và tụng niệm bằng tiếng Sancrit, (Viên tịch tại chùa Viên Giác Hanover)

Đạo hữu và Gia đình Chi Hội trưởng

Thọ Bát quan trai giới

Tu "Gieo Duyên" Chùa Viên Giác;
Chi hội Phật tử Hanover tặng "tu sinh" mũ len đan.

Thế phát "Bồ Tát tại gia";
Chùa Khuông Việt, Oslo Norway.



Bài số 2:
Bao Giờ Anh Trở Lại?
Thơ Hoàng Trung Thông
[Có chỉnh từ và chấm giòng cho chuẩn]



Các anh đi ngày ấy đã xa rồi,
Xóm làng tôi còn nhớ mãi;
Các anh đi, biết bao giờ trở lại?
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong.

Làng tôi nghèo nho nhỏ bên sông,
Gió bắc lạnh lùng thổi vào mái rạ;
Làng tôi nghèo gió mưa tơi tả,
Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi.

Các anh về mái ấm nhà vui,
Tiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏ;
Các anh về tưng bừng trước ngõ,
Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau.
Mẹ già bịn rịn áo nâu,
Vui đàn con ở rừng sâu mới về.

Từ lưng đèo dốc núi mù che,
Các anh về xôn xao làng tôi bé nhỏ;

Nhà lá đơn sơ, tấm lòng rộng mở,
Nồi cơm nấu dở bát nước chè xanh;

Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau.

Anh giờ đánh giặc nơi đâu,
Chiềng Vang, Vụ Bản hay vào Trị Thiên?
Làng tôi thắng lợi vụ chiêm,
Lúa thêm xanh ngọn, khoai lên thắm vồng.
Giảm tô hai vụ vừa xong,
Đêm đêm ánh đuốc dân công rực đường;
Dẫu rằng gió núi, đèo sương,
Công anh máu nhuộm chiến trường thấm chi.


Bấm tay tính buổi anh đi,
Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về?
Lúa xanh xanh ngắt chân đê,
Anh đi là để giữ quê hương mình.
Cây đa, bến nước, sân đình,
Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường;
Hoa cau thơm ngát đầu nương,
Anh đi là giữ tình thương dạt dào.

Các anh đi biết khi nào trở lại?
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong;
Chờ mong chiến dịch thành công,
Xác thù chất núi, bên sông đỏ cờ.


Anh đi chín đợi, mười chờ,
Tin thường thắng trận, bao giờ về anh.


Bài số 3:
Học và Tu: Từ Làng đến Chùa.

Tìm các bản thảo, tôi có lại ít dòng hồi niệm. Việc ghi lại những kỷ niệm trong đời thì thực là luôn tâm niệm, mà cũng luôn còn sự ngại ngùng. Nhân “kiểm điểm” việc “tu”, thấy cũng có chút ý nghĩa nên không ngại phiền người đọc, dù là Trang riêng.
Dù sao, cũng xin nhắc lại:
Chuyện xưa chép lại bên đèn,
Hãy nghe cả những ưu phiền, Bạn ơi.

Thân mến,
Thiện Hảo.
Mu-ních, 09:36, 2011-05-23

 [Quản trị Trang biên tập lại.
 [Kính báo.]

(...)
Kỷ niệm tu
Có thời gian chúng tôi âm thầm tự đặt cho mình một chương trình tu học là: Theo lịch phật-sự của Thày bổn-sư Thượng-tọa Viên Giác, chúng tôi sẽ viếng thăm các đạo-tràng trong phạm vi nước Đức. Anh Hồ Thanh. nói: Như thế thì lợi lạc nhiều lắm: Vừa được theo Thày tu lại vừa được học cách làm của các đạo hữu khác ... Cứ như vậy, trong khoảng gần 2 năm, chúng tôi thực hiện khá đều; Kết quả không những các bài Pháp-phật được tiếp thu một cách hệ thống mà tình đạo-hữu thấm vào như nước cam-lồ làm cho tâm ấm lên, hồn thanh thả lại. Một buổi kia, Anh Hồ Thanh lại nói: Khá lắm ! Thôi xuống núi được rồi, và hãy tự mình đốt đuốc mà đi! ...
Chúng tôi đã thu hoạch được rất nhiều. Dù kết quả không đến mức “bất khả tư nghị”, nhưng cũng không thể viết hết ra trong một lúc được; Nhất là tình đạo-hữu, nghĩa thày-trò thì chẳng thể nào quên. Nhớ một lần, thấy chúng tôi đứng trong hàng phật-tử chào đón Thày, Thày chỉ tay cười nói: Lại gặp các vị này ở đây! Chúng tôi rất cảm động vì Thày đã nhận ra mình và nhất là thấy Thày vui. Chúng tôi nghĩ nếu không vội lên lớp, chắc Thày đã đứng lại, xoa đầu chúng tôi và nói: Lành thay phật-tử! (Tất nhiên là chưa và không thể được nghe: Thiện tai Tỳ-kheo! -  Chúng tôi đang ở bước đầu trong a-tăng-tỳ thứ nhất!). Nói cảm động khi thấy Thày vui là nghĩ đến công đức thật lớn của Thày: Gió, tuyết, đường xa ... chúng tôi chỉ đi một vài lần - Còn Thày thì đã bao năm trời xông trải. Chúng tôi lo cho cái xe, chỗ ngủ của mình - Còn Thày thì nghĩ đến đời sống bao người, lo cho tâm linh họ bao nhiêu kiếp ... Việc học, ngoài nghe giảng, còn là noi theo tấm gương của Thày bổn-sư, để ngộ cái lý thật cao, để thấm cái tình thật rộng. Một điều nhỏ làm nguyên nhân cho những dòng viết trên đây chính là một trong những điều chúng tôi tiếp thu được ở Thày.

Nguồn lưu: Tập tin có ghi: Sừa đổi ngày 05.10.2007, 22:12; Trong “Bản thảo 2000”


Bài số 04
Mùa Trái Rụng
(Cảm nghĩ về những sự ra đi)
Lê Dương, 01:47 – 2008-06-15

Lời dẫn:
Trong khi soạn lại "Bản thảo Thơ" thì gặp lại bài này, như một kỷ niệm: Bài viết là phản hồi trên talawas nhân việc ông Võ Văn Kiệt chết, ký "Lê Dương" là một trong 2 bút danh trên talawas. Thú vị và đọc lại eMail trả lời của Ban Biên tập (Bao giờ cũng được trả lời); Thời gian này, chữ còn chưa được bỏ dấu! Cũng đính kèm cho ... vui:

Re: MuaTraiRung-080615                                                                                                                     
      BBT talawas <toasoantalawas@yahoo.de>                                                                                   
AnsichtMontag, den 16. Juni 2008, 23:13:04 Uhr                                                                                          
An:Hong-Manh Bui hongmanh_07@yahoo.de                                                                                               
Cam on anh Le Duong da gui y kien.                                                                                     
Tran trong,                                                                                                                        
talawas                                                                                                                             
www.talawas.org                                                                                                                red@talawas.org                                                                                                                      
Về nội dung thì vì là ý kiến trên một diễn đàn nên có phần ... dông dài. Tuy nhiên ngẫm về ý nghĩa sự sống trong suy tư "sinh-lão-bệnh-tử" thì cũng không quá khiên cưỡng. Chung quy lại thì cũng là cái sự YÊU NGƯỜI và YÊU ĐỜI mà thôi.
[Bài ""Trái Rụng" là chép từ sổ tay của anh Ngò, hàng xóm qua "Sổ tay văn học" của mình. Bài được ghi là của Bùi Công Trừng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước bị thất sủng (thân Nga?!, theo Anh Hiên kể). Khi ghi lại, vì nhớ chưa đủ và cũng do ... tế nhị mà ghi là "khuyết danh".
[Cũng dịp này, Phạm Lưu Vũ viết 1 bài rất hay về "Văn tế thập loại chúng sinh"; Mình có gửi toàn văn và talawas đã đăng như một tư liệu. Tại đây, do dài nên cắt bỏ.]
Cẩn bút.
00:14, 25.05.2011

1.
Chết, chết nhiều quá; cứ như mùa trái rụng! Mới hôm nào là Lê Đạt, gần đây là Xuân Sách; nay thì các trang mạng đưa tin liên tục về ông Võ Văn Kiệt (Phan Văn Hoà).
Không còn cái bâng khuâng tự vấn thuở xưa: „Sao ... chết người nhạc sỹ Văn Cao?“; bây giờ hình như cái thần đã định: có điếu văn truy điệu, có cảm tưởng, phẩm bình, ... Thế là ta lại hỏi lòng: Sao con người quan tâm, xúc động trước cái chết của đồng loại nhiều như vậy? Có phải cái sống đã khôn ra rồi chăng, nên cái chết hoá thiêng? Thực ra người nào mà chẳng chết; và số người đã chết bao giờ cũng nhiều hơn số người đang sống. Bi kịch là con người, trong suốt cuộc sống của mình, luôn sợ chết. Bỗng nhớ lời Thày Thích Thanh Từ (Trúc Lâm Thiền viện Đà Lạt): Con người chúng ta, sống là để chuẩn bị cho cái chết. Nghe ghê quá; nhưng chắc cũng là diễn ý câu: Sống gửi, chết về!
Thế thì người ta chuẩn bị thế nào cho cái chết của mình? Người ta coi người khác chết để rút bài học: thấy người nằm đó, biết sau thế nào?; người ta nghe lời bình phẩm của người sống về người chết để đúc kết kinh nghiệm: trâu chết để da, người ta chết để tiếng, nghĩa tử là nghĩa tận, cái quan luận định, ... Thông thường nhất là bàn luận xem ông nọ bà kia khi sống đã làm gì phải quấy, để lại cái gì còn giá trị sử dụng hay suy ngẫm. Tức là, như mọi chỗ, lý luận phục vụ thực dụng cuộc đời; cất tiếng nói lên để chứng tỏ sự tồn tại của mình.
Tôi chưa có đủ kinh nghiệm để cất tiếng, xin thử đem thơ của người xưa ra xem lại.

2.
Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn để nói về sự chết của các loại chúng sinh. Tôi dẫn đoạn sau để xem xét vì thấy có những nghi vấn lý thú. Đó là đoạn:
1. Vua chúa bị giết
Nào những kẻ tính đường kiều hạnh,
Chí những lăm cướp gánh non sông;
Nói chi đang thuở thị hùng,
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!
Bỗng phút đâu tro bay ngói giỡ,
Khôn đem mình làm đứa thất phu;
Cả giàu sang, nặng oán thù,
Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.
...
Đoạn này chép từ cuốn sách biên khảo của ông Hoàng Xuân Hãn trong đó ông chú giải cẩn thận từng chữ nghi vấn trong từng câu; thí dụ chữ „cướp“ (trong câu 2 ở đây) có bản ghi là „cất“. Chữ này tôi đặc biệt nêu ra vì nó liên quan đến logik đoạn thơ và thậm chí cả việc hiểu cho đúng ý của Nguyễn Du. Xin diễn giải như sau:
Đây là nói về vua chúa bị giết:
Có những vua chúa mưu toan vẻ vang ở đời (gồm cả phú quý) và lưu danh sử sách,
Ý tưởng là muốn giành lấy (cướp) vai trò gánh vác việc đất nước;
Ở địa vị ấy mà tác oai tác quái thì không nói làm gì,
Chỉ đau đớn là khi hết thế lực, vận đời cùng quẫn.
etc.
Nghi vấn là: Chữ „cướp“ chẳng ăn nhập vào đâu: đã là „vua chúa“ rồi, đang „thị hùng“ rồi thì còn phải cướp ngôi, tranh vị với ai? Thà rằng bỏ „cướp“ đi: „Chí những lăm (ấy) gánh non sông“, thì dù vận không thông nhưng nghĩa vẫn xuôi.
Để tránh cái „sái“ này, tác giả Phạm Lưu Vũ, trong một bài viết rất hay, đã sửa thành:
Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cướp gánh non sông
Nói chi đang thuở tranh hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!
Tranh hùng“ là dẫn đất nước vào cuộc binh lửa với ngoại bang; „thị hùng“ là tỏ mạnh với đồng liêu, đồng chủng. Cũng có thể gọi là „thông“, nhưng xét ý toàn đoạn thì vẫn „cương“. Cho „cướp“ đi cùng „tranh“ thì vừa đôi phải lứa; nhưng cả đôi này cũng không „môn đăng hộ đối“ với những kẻ đã ở ngôi vua chúa. Vậy phải làm sao? Tôi thử điền chữ „cất“ (là chữ trong bản văn do sư Chính Đại khắc ván in năm 1895, theo Hoàng Xuân Hãn) trở lại và thử diễn dịch thì thấy có vẻ  ... (hanh) thông; và điều lý thú là lộ ra cái tâm ý thật cao sâu của Nguyễn Du:
Vua chúa bị giết:
Có những kẻ tìm đường vẻ vang,
Quyết chí gánh vác việc đất nước (lăm cất gánh)
Đã ở vị trí có thể biểu thị sức mạnh
Nhưng đến lúc hết thế rồi thì tình cảnh trở nên bi đát.
Tài sản thu (vét) được bị kẻ khác cướp phá
Thân thì mang chức tước nên không thể sống đời bình dân;
Cái giàu sang càng lớn thì thù oán càng nhiều
Bị giết chết và thây ma không được nhìn ngó.
...
Vậy cái gọi là „tâm ý“ là gì? Tôi hiểu như sau:
Con người ta, trong đời mỗi kẻ có một cuộc sống rất khác nhau, nhưng khi chết thì bình đẳng: nợ thì phải trả. Do khả năng và chí hướng mà mỗi người có địa vị khác nhau; cốt làm sao đóng góp cho cộng đồng, đẩy cuộc sống đi lên. Cho nên ở cái địa vị tột cùng đến như vua chúa cũng chưa là gì, cũng mới chỉ là „lăm - dự định“ thôi. Đã cất gánh thì phải đi lên, chứ đi ngang (đặt chỗ này xế sang chỗ khác), không nói đi lùi, thì phải nói là „chưa nên công cán gì“ vậy! Vì chỉ nhích ngang hay đặt lùi „gánh non sông“ sang phía bà con, họ mạc, bè đảng mình, nên các bè phái khác không ủng hộ mà lực suy thế khuất, mà „tro bay ngói giỡ“, mà „máu tươi lai láng“, thế thái buồn thương!
Bàn công luận tội sau cái chết chính là như thế. Do sợ chết, sợ cái kết cục bi thương mà con người phải lo suốt cuộc đời; bàn về chết là để chuẩn bị cho cái chết, là để sống cho đúng một kiếp con người.

3.
Để có hậu: ta (sống) thắng - địch (chết) thua, xin chép lại theo trí nhớ bài thơ (nghe nói là do một đảng viên Cộng sản làm khoảng những năm 60) đã được lấy làm tiêu đề bài viết:

Trái rụng

Trái rụng ấy là ngày trái chín,
Hạt đương chồi trong ấy chứa đau thương;
Cảnh hoàn sinh âu cũng những chuyện thường,
Có gãy vỡ mới hay rằng sự biến.

Ngàn vạn vật trong những chiều biến chuyển,
Chết hôm nay để nuôi sống ngày mai;
Giữa đau thương không cần khóc, bạn đời ơi,
Hạt đã sẵn, ta gieo mầm trên đất.

... (nhớ thiếu 1 câu)
Nuôi trong lòng ta, căn dặn lòng ta:
Trái chín muồi, ngọt tận ngoài da,
Thấy trái rụng, xin đừng vội khóc;
Một trái rụng, muôn ngàn trái mọc!

 

Hoàng Long Thư Quán0 Kommentare